Chuyên đề · vật liệu bảo vệ môi trường

Hai tuyến khử lưu huỳnh, một cấu hình nghiền đá vôi

Đốt một tấn than tiêu chuẩn thải khoảng 18 kg SO2. Nếu khói không được xử lý, mưa axit tụt xuống pH dưới 4, đất chua hóa, công trình ăn mòn. Toàn bộ gánh nặng đó đặt lên vai một loại bột tưởng chừng bình thường: bột đá vôi.

Hai tuyến khử lưu huỳnh, một cấu hình nghiền đá vôi
Độ cứng Mohs (đá vôi)3
Độ ẩm đầu vào≤ 4%
Kích thước cấp liệu≤ 40 mm
Độ mịn FGD ướt250 mesh, qua sàng ≥ 90%
Độ mịn CFB1 mm - 0,045 mm

Hai ngả công nghệ khử lưu huỳnh và hai phổ hạt khác nhau

Công nghệ khử lưu huỳnh phổ biến gồm hai dòng. Một là FGD ướt kiểu đá vôi - thạch cao: trong tháp phun, bùn đá vôi tiếp xúc khói, SO2 phản ứng tạo calcium sulfit rồi oxy hóa thành thạch cao - dòng này chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lắp đặt. Hai là tuần hoàn gió đáy CFB trong và ngoài lò: bột đá vôi được thổi trực tiếp vào vùng cháy, phân hủy nhiệt thành vôi sống bắt SO2, phần còn lại phản ứng tiếp ở lớp ngoài. Vì cơ chế khác nhau nên yêu cầu cỡ hạt khác nhau: FGD ướt thường đòi 250 mesh qua trên 90% để đủ diện tích phản ứng mà không thừa bùn; trong khi CFB dùng 1 mm tới 0,045 mm cho khử lưu huỳnh trong lò, và 0 tới 0,045 mm cho ngoài lò. Một dây nghiền muốn phục vụ cả hai phải có hai ngưỡng phân loại độc lập.

Dây chuyền nghiền chất khử lưu huỳnh

  1. Cấp liệu: đá vôi sau đập hàm và côn, cỡ 0 - 40 mm vào két, cân rung giữ lưu lượng theo tải thiết kế.
  2. Nghiền: MTW kiểu Raymond hoặc máy đứng LM ép vỡ; đá vôi cứng Mohs 3, dễ nghiền nhưng sinh fines nhiều, cần kiểm soát gió.
  3. Phân loại: rotor phân tích cắt ngưỡng 250 mesh cho bùn hóa FGD, nhánh 0,045 mm cho trạm phun CFB.
  4. Tách quá cỡ: hạt thô rơi lại buồng nghiền bằng ống hồi liệu trong thân máy, không cần băng tải hồi riêng.
  5. Thu bụi: túi lọc xung áp suất âm giữ toàn bộ fines; khí sạch về quạtdẫn động, bụi hồi về silo bột.
  6. Chế biến ướt: bột trộn nước thành huyền phù 20 - 30% tại trạm pha bùn, bơm vào tháp phun của nhà máy điện.

Sản phẩm phục vụ ai

  • Nhà máy nhiệt điện than và sinh khối có tháp FGD ướt đá vôi - thạch cao.
  • Lò hơi CFB, lò đốt rác công nghiệp cần bột đá vôi hoặc vôi sống khử lưu huỳnh trực tiếp.
  • Nhà máy xi măng và luyện kim muốn giảm phát thải SO2 theo lộ trình môi trường.
  • Trạm sản xuất vôi cần bột hoạt tính cao cấp cho xử lý nước và khí thải.

Trên thực tế, nhà máy điện thường tính đủ hai chỉ tiêu khi chọn bột đá vôi khử lưu huỳnh: độ mịn và tỷ lệ carbonate hoạt tính. Nhà máy nghiền của chúng tôi vì thế thiết kế song song sàng ướt để nghiệm thu cỡ hạt và kiểm tra phản ứng trong phòng thử nghiệm. Với khách CFB cần cỡ 0 - 0,045 mm, dây chuyền dùng phân tích tầng sâu kết hợp túi lọc lớn; với khách FGD chỉ cần 250 mesh, MTW phủ hợp lý với tiêu thụ điện thấp. Nguyên tắc chung: một dây nghiền, hai dòng thành phẩm, một hệ điều khiển.

Giải đáp từ ca vận hành

Dùng đá vôi hay vôi sống cho FGD ướt?

Phần lớn chọn đá vôi vì an toàn, chi phí thấp và thạch cao thu hồi dễ tiêu thụ; vôi sống chỉ hợp khi cần hoạt tính cao tức thời.

Vì sao 250 mesh mà không phải 325 mesh?

Vượt 250 mesh, diện tích bề mặt tăng thêm không cải thiện tỷ số hấp thụ đáng kể, nhưng tiền điện và bảo dưỡng tăng - điểm bão hòa kinh tế nằm ở khoảng 250.

Độ ẩm ảnh hưởng gì tới phun CFB?

Bột ẩm kết đám trong bồn phun, gây lệch lưu lượng; dây nghiền của chúng tôi duy trì ẩm ra máy dưới 1% nhờ dòng khí sấy trong buồng nghiền.