Nghiền matte niken: độ mịn quyết định khâu điện phân
Từ xưởng điện phân niken đến nhà máy hợp kim chứa niken, bột matte niken là nguyên liệu trung gian không thể thiếu…
Xem chi tiếtĐốt một tấn than tiêu chuẩn thải khoảng 18 kg SO2. Nếu khói không được xử lý, mưa axit tụt xuống pH dưới 4, đất chua hóa, công trình ăn mòn. Toàn bộ gánh nặng đó đặt lên vai một loại bột tưởng chừng bình thường: bột đá vôi.

Công nghệ khử lưu huỳnh phổ biến gồm hai dòng. Một là FGD ướt kiểu đá vôi - thạch cao: trong tháp phun, bùn đá vôi tiếp xúc khói, SO2 phản ứng tạo calcium sulfit rồi oxy hóa thành thạch cao - dòng này chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lắp đặt. Hai là tuần hoàn gió đáy CFB trong và ngoài lò: bột đá vôi được thổi trực tiếp vào vùng cháy, phân hủy nhiệt thành vôi sống bắt SO2, phần còn lại phản ứng tiếp ở lớp ngoài. Vì cơ chế khác nhau nên yêu cầu cỡ hạt khác nhau: FGD ướt thường đòi 250 mesh qua trên 90% để đủ diện tích phản ứng mà không thừa bùn; trong khi CFB dùng 1 mm tới 0,045 mm cho khử lưu huỳnh trong lò, và 0 tới 0,045 mm cho ngoài lò. Một dây nghiền muốn phục vụ cả hai phải có hai ngưỡng phân loại độc lập.
Trên thực tế, nhà máy điện thường tính đủ hai chỉ tiêu khi chọn bột đá vôi khử lưu huỳnh: độ mịn và tỷ lệ carbonate hoạt tính. Nhà máy nghiền của chúng tôi vì thế thiết kế song song sàng ướt để nghiệm thu cỡ hạt và kiểm tra phản ứng trong phòng thử nghiệm. Với khách CFB cần cỡ 0 - 0,045 mm, dây chuyền dùng phân tích tầng sâu kết hợp túi lọc lớn; với khách FGD chỉ cần 250 mesh, MTW phủ hợp lý với tiêu thụ điện thấp. Nguyên tắc chung: một dây nghiền, hai dòng thành phẩm, một hệ điều khiển.
Phần lớn chọn đá vôi vì an toàn, chi phí thấp và thạch cao thu hồi dễ tiêu thụ; vôi sống chỉ hợp khi cần hoạt tính cao tức thời.
Vượt 250 mesh, diện tích bề mặt tăng thêm không cải thiện tỷ số hấp thụ đáng kể, nhưng tiền điện và bảo dưỡng tăng - điểm bão hòa kinh tế nằm ở khoảng 250.
Bột ẩm kết đám trong bồn phun, gây lệch lưu lượng; dây nghiền của chúng tôi duy trì ẩm ra máy dưới 1% nhờ dòng khí sấy trong buồng nghiền.