Máy nghiền đá kèm phụ kiện: trọn bộ thiết bị dây nghiền
Máy nghiền đá kèm phụ kiện gồm máy chính, cấp liệu, phân ly, lọc túi vải và đóng bao. Bảng thiết bị phụ trợ, cách…
Xem chi tiếtMáy nghiền đá điện công suất tùy chỉnh là giải pháp ghép động cơ, bộ phân ly và quạt hút theo đúng lưu lượng và độ mịn mà xưởng cần, thay vì mua một model cố định rồi chạy lệch tải. Việc chọn đúng công suất động cơ quyết định phần lớn tiền điện mỗi tấn bột.

Máy nghiền đá truyền động điện dùng động cơ không đồng bộ công suất lớn, kéo mâm nghiền hoặc trục chính qua hộp giảm tốc. Nhà chế tạo thường có nhiều model danh nghĩa, nhưng lưu lượng và độ mịn thực tế lại phụ thuộc cặp đôi vật liệu và sản phẩm. Một xưởng cần 8 t/h ở 250 mesh sẽ chạy lãng phí nếu mua máy 20 t/h, và ngược lại nếu mua máy 5 t/h thì suốt ngày quá tải.
Tùy chỉnh công suất không chỉ là đổi động cơ. Cần tính lại lưu lượng khí, cột áp quạt hút, tốc độ bộ phân ly và cả đường kính ống gió. Nếu chỉ nâng động cơ mà giữ nguyên quạt và bộ phân ly, dây sẽ dư năng lượng nghiền nhưng thiếu gió vận chuyển, bột trào ngược và dòng điện động cơ dao động mạnh.
Ví dụ một dây đá vôi 15 t/h, chỉ số Bond 12 kWh/t, hiệu suất 0,8 thì công suất trục khoảng 225 kW. Thực tế nên chọn động cơ 250 - 280 kW, vì lúc khởi động và khi đá lẫn silic cứng, tải đỉnh vượt xa con số tính toán.
| Lưu lượng | Độ mịn mục tiêu | Công suất động cơ chính | Quạt hút | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| 1 - 3 t/h | 80 - 325 mesh | 75 - 90 kW | 37 - 45 kW | Xưởng nhỏ, lưới 380V |
| 6 - 12 t/h | 80 - 425 mesh | 132 - 185 kW | 75 - 110 kW | Biến tần phân ly để đổi cỡ |
| 20 - 40 t/h | 80 - 325 mesh | 250 - 355 kW | 160 - 200 kW | Cần khởi động mềm |
| Siêu mịn tới 2500 mesh | D97 tới 5 µm | 185 - 315 kW | 200 - 220 kW | Phân ly nhiều tầng |
Đây là khâu hay bị xem nhẹ. Cùng một model nhưng thị trường này dùng lưới 380V/50Hz, thị trường khác dùng 440V/60Hz hoặc 460V/60Hz. Nếu đặt động cơ 50Hz rồi ghép biến tần ở lưới 60Hz, động cơ sẽ chạy quá tốc độ, nóng và tụt sản lượng; ngược lại cũng vậy. Cách đúng là đặt đồng bộ động cơ chính, động cơ quạt và động cơ bộ phân ly theo đúng điện áp và tần số lưới.
Ở khu vực điện chập chờn, nên dùng khởi động mềm hoặc biến tần thay vì đóng trực tiếp, vì dòng khởi động có thể gấp năm sáu lần dòng định mức, dễ nhảy aptomat và mòn răng hộp giảm tốc. Kèm theo đó là tủ điện đặt tách riêng, làm mát bằng quạt lọc để tránh bụi đá lọt vào biến tần.
Là nhà chế tạo ghép động cơ, bộ phân ly và quạt hút theo đúng lưu lượng và độ mịn khách hàng cần, thay vì bán một model cố định. Ví dụ khách cần 8 t/h ở 250 mesh thì chọn động cơ 132 kW thay vì máy 160 kW tiêu chuẩn, tránh chạy non tải lâu ngày làm hộp giảm tốc bị rung.
Lấy lưu lượng nhân chỉ số nghiền Bond rồi chia cho hiệu suất tổng. Với đá vôi có chỉ số Bond khoảng 12 kWh/t, dây 15 t/h cần khoảng 15 nhân 12 chia 0,8 tức gần 225 kW ở trục; nên chọn động cơ 250 - 280 kW để dự phòng lúc khởi động và khi vật liệu cứng hơn thiết kế.
Vì cùng một model nhưng thị trường dùng 380V/50Hz còn thị trường khác dùng 440V/60Hz. Dùng động cơ 50Hz ghép biến tần ở lưới 60Hz sẽ mất sản lượng và nóng máy. Phải đặt đồng bộ động cơ chính, quạt và bộ phân ly theo đúng tần số và điện áp lưới tại nhà máy.
Biến tần điều chỉnh tốc độ bộ phân ly để đổi độ mịn mà không cần tháo cơ khí, đồng thời hạn chế dòng khởi động lớn làm nhảy aptomat. Với lưới điện chập chờn, khởi động mềm giúp động cơ và hộp giảm tốc bền hơn nhiều so với đóng trực tiếp.