Máy nghiền đá cổ Trung Quốc: từ cối đá đến nghiền công nghiệp
Cối đá cổ Trung Quốc dùng hai phiến đá có rãnh, quay chậm nên ít sinh nhiệt. Tìm hiểu kết cấu, nguyên lý và cách nó…
Xem chi tiếtMáy đập nghiền đá công nghiệp là dây khép kín gồm hai nửa: đập hạ đá cục từ hàng trăm milimét xuống cỡ cấp liệu, rồi nghiền biến chúng thành bột 80 - 2500 mesh. Chọn sai thiết bị đập hoặc để lệch lưu lượng giữa hai nửa là nguyên nhân nghẽn dây phổ biến nhất.

Máy đập nghiền đá công nghiệp không phải một chiếc máy đơn lẻ mà là chuỗi giảm cỡ liên hoàn. Khâu đập giữ vai trò tạo cấp liệu đúng cỡ và đúng đều cho khâu nghiền. Đá nguyên khai sau nổ mìn có thể tới 700 - 1200 mm, quá lớn để vào máy nghiền, nên phải qua đập thô rồi có khi đập thứ cấp để về dưới 30 - 50 mm.
Cách chọn thiết bị đập phụ thuộc độ cứng và độ ẩm vật liệu. Đá vôi và đá hoa giòn nên đập búa cho tỷ số đập cao, gọn dây. Đá bazan, granite cứng hơn thì đập hàm bền hơn và ít sinh hạt mịn thừa. Với liệu ẩm dính, đập búa dễ bít sàng nên thường phải chuyển sang phương án đập hàm.
Hai nửa của dây cần khớp lưu lượng. Nếu đập nhanh hơn nghiền, phễu đầy và phải dừng đập liên tục; nếu nghiền nhanh hơn đập, máy chạy non tải và cỡ hạt dao động. Kho đệm là bộ phận dung hòa hai nhịp này.
| Khâu | Thiết bị | Cỡ hạt vào - ra | Lưu ý |
|---|---|---|---|
| Đập thô | Đập hàm hoặc đập búa | 1200 xuống 80 - 250 mm | Chọn theo độ cứng đá |
| Đập thứ cấp | Đập côn hoặc búa | 250 xuống 30 - 50 mm | Kiểm soát hạt quá cỡ |
| Sàng và tách kim loại | Sàng rung, nam châm | Theo cỡ cấp liệu | Bảo vệ máy nghiền |
| Nghiền thô đến trung | MTW, MTM, LM | vào dưới 50 mm, ra 80 - 425 mesh | Tích hợp phân ly |
| Nghiền siêu mịn | SCM, LUM | vào dưới 20 mm, ra tới 2500 mesh | Cần liệu khô, mịn |
Dây nhỏ và vừa 3 - 50 t/h thường dùng đập hàm một cấp kèm máy nghiền châu Âu MTW hoặc MTW6X, miễn cấp liệu được hạ đúng cỡ. Dây lớn từ 50 t/h trở lên dùng đập hàm hai cấp và máy nghiền đứng LM, vì LM vừa chịu cấp liệu thô hơn vừa tích hợp sấy và phân ly. Nếu đầu ra là bột siêu mịn, thêm nhánh SCM hoặc LUM sau khi đã hạ liệu xuống dưới 20 mm.
Thiết bị phụ trợ không thể xem nhẹ: cấp liệu rung đều, sàng phân cỡ chính xác, nam châm tách kim loại nhiều điểm, kho đệm và hệ cấp liệu định lượng. Bụi từ khâu đập cũng cần hút và lọc riêng để không lẫn vào bột thành phẩm.
Đá vôi mềm, giòn nên cả hai đều dùng được. Đập hàm phù hợp khi cần cấp liệu lớn, đá lẫn tạp cứng và muốn ít hạt mịn. Đập búa cho tỷ số đập cao hơn, ra thẳng cỡ 10 - 30 mm trong một cấp, hợp dây gọn nhưng kỵ liệu ẩm dính vì dễ bít sàng.
Với máy nghiền châu Âu MTW, cấp liệu nên dưới 30 - 35 mm. Với máy nghiền đứng LM chịu được tới 40 - 50 mm. Máy nghiền siêu mịn cần mịn hơn, thường dưới 10 - 20 mm. Đưa liệu quá thô vào máy nghiền sẽ gây rung và mòn nhanh con lăn.
Vì hai khâu chạy nhịp khác nhau, khâu đập theo chuyến xe còn khâu nghiền cần liệu đều liên tục. Kho đệm san phẳng dao động, giúp cỡ hạt và điện năng tiêu thụ ổn định. Không có kho đệm, dây dễ nghẽn phễu và dòng động cơ nhảy liên tục.
Gồm cấp liệu rung, đập thô bằng hàm hoặc búa, sàng phân cỡ, nam châm tách kim loại, kho đệm, cấp liệu định lượng, máy nghiền, bộ phân ly, thu bụi và hệ đóng bao. Mỗi khâu phải khớp lưu lượng với nhau để không tạo nút thắt.