Búa nghiền mới cho máy nghiền đá: chọn vật liệu và chu kỳ thay
Búa nghiền mới thay cho máy nghiền đá cần đúng mác thép, đúng hình dạng và đúng độ cứng. Hướng dẫn chọn búa Mn13…
Xem chi tiếtNghiền vật liệu dễ chảy là nhóm công việc đòi hỏi kiểm soát độ ẩm và dòng gió chặt hơn hẳn so với nghiền khoáng giòn thông thường. Nhóm vật liệu này gồm bentonite, talc, mica, canxit, barit — chúng chảy tốt nhưng lại dễ bám và vón khi gặp ẩm, biến buồng nghiền thành khối dính và làm giảm sản lượng mà khó nhận ra nguyên nhân nếu chỉ nhìn đồng hồ tải.

Vật liệu dễ chảy trong chế biến khoáng là những khoáng mềm, độ cứng Mohs 1 - 3, có xu hướng trượt và chảy đều khi khô. Bentonite với thành phần chính là montmorillonit có độ dẻo rất cao; chịu lực ép, nó bị miết và tạo lớp dính thay vì vỡ giòn. Talc, mica, canxit và barit cũng chảy tốt nhưng bám dính khi ẩm. Đặc điểm chung là khi độ ẩm vượt 6 - 8%, vật liệu bắt đầu vón cục, bám vào con lăn và vành nghiền, làm giảm hiệu quả nghiền.
Yêu cầu độ mịn phụ thuộc ứng dụng. Bentonite làm chất dính cho khuôn cát đúc cần 200 mesh tương đương 75 µm để trộn đều với cát và nước. Bentonite làm chất kết dính trong vê viên quặng sắt cần 200 - 325 mesh, tức khoảng 75 - 45 µm. Với talc, mica và canxit dùng cho sơn, nhựa, giấy, dải độ mịn trải rộng từ 325 đến 2500 mesh, tùy yêu cầu về độ trắng, độ bóng và độ phân tán.
Điểm mấu chốt là dòng khí. Vật liệu dễ chảy cần luồng gió đủ mạnh để cuốn hạt mịn ra khỏi vùng ép, nếu không lớp bột mịn sẽ bị ép ngược lại và dính chặt vào vành nghiền. Sấy là công cụ trực tiếp để hạ độ ẩm về ngưỡng an toàn, nhưng phải tránh sấy quá nóng ở vật liệu có thể biến màu như talc có độ trắng cao.
| Vật liệu / ứng dụng | Độ mịn mục tiêu | Thiết bị gợi ý | Lưu ý vận hành |
|---|---|---|---|
| Bentonite cho khuôn đúc | 200 mesh | MTW hoặc MTM 5 - 15 t/h | Giữ ẩm dưới 6%, điện năng 18 - 25 kWh/t |
| Bentonite vê viên quặng | 200 - 325 mesh | MTW có phân ly biến tần | Cần cấp liệu rất đều |
| Talc, mica mịn cao | 325 - 2500 mesh | LUM hoặc SCM | Không sấy quá nóng để giữ độ trắng |
| Canxit, barit độn | 200 - 1250 mesh | LM hoặc MTW | Theo dõi bám vành nghiền định kỳ |
Với vật liệu độ ẩm ổn định dưới 6% và công suất khoảng 10 t/h, máy nghiền châu Âu MTW là lựa chọn tiết kiệm, dải 80 - 325 mesh điều chỉnh bằng biến tần và đường gió cong giúp giảm bám bột. Khi độ ẩm đầu vào dao động hoặc cần chạy liên tục, máy nghiền đứng LM có ưu thế rõ: luồng khí mạnh và cơ cấu ép lớp đệm giảm tiếp xúc trực tiếp giữa kim loại và vật liệu dẻo, nhờ đó hạn chế vón và bết.
Phần phụ trợ cần chú ý hơn cả: phễu cấp liệu nên có thành dốc, tránh góc chết gây treo liệu; đường gió cần đủ lưu lượng để cuốn hạt mịn; lọc túi xung khí nén giữ cho khí tuần hoàn sạch, giảm ẩm tích tụ. Với vật liệu dẻo, bộ phân ly kiểu rotor cắt biên hạt ổn định hơn loại cánh tĩnh. Các dòng máy phù hợp có trong mục nghiền khoáng phi kim loại.
Vì dễ chảy và dễ dính là hai mặt của cùng một tính chất. Vật liệu có độ dẻo cao như bentonite chịu lực thì bị miết và vón thay vì vỡ giòn, khi gặp ẩm chúng bám thành lớp lên con lăn và vành nghiền, làm giảm ma sát nghiền và bịt đường gió. Muốn nghiền ổn định phải khống chế độ ẩm chứ không phải tăng công suất máy.
Nên giữ dưới 6% nước trước khi vào buồng nghiền. Khi vật liệu vượt khoảng 8 - 10%, bentonite bắt đầu vón thành cục trong máy nghiền kiểu con lăn treo và bám chặt vào vành nghiền. Nếu độ ẩm đầu vào dao động mạnh, máy nghiền đứng tích hợp sấy bằng khí nóng là lựa chọn ổn định hơn.
Bentonite nghiền tới 200 mesh dùng làm chất dính trong khuôn cát đúc; mịn hơn, khoảng 200 - 325 mesh, dùng làm chất kết dính trong vê viên quặng sắt. Talc, canxit, barit và mica đều thuộc nhóm vật liệu dễ chảy, được nghiền cho sơn, nhựa, giấy và dung dịch khoan.
Ba việc chính: sấy để hạ độ ẩm trước khi nghiền, dùng máy nghiền có luồng gió mạnh và khoang thoát rộng, và cấp liệu đều để buồng nghiền không bị quá tải cục bộ. Vệ sinh vành nghiền và đường gió định kỳ cũng giúp phát hiện lớp bột bám sớm.