Máy nghiền đứng sấy đá vôi: từ 15% ẩm xuống dưới 1% ẩm
Máy nghiền đứng sấy đá vôi tích hợp nghiền và sấy trong một buồng: khí nóng vào vành gió tới 350°C, khí ra 70 - 95°C…
Xem chi tiếtMáy nghiền đá vôi tại Ai Cập phục vụ ba nhóm nhu cầu rõ rệt: bột liệu cho cụm xi măng quanh Suez và Beni Suef, bột phosphorit cho phân bón ở New Valley, và bột thạch cao cùng phụ gia ở vùng Biển Đỏ. Vì khí hậu sa mạc hanh khô nhưng mỏ lại hay nhiễm bụi và ẩm cục bộ theo mùa, cấu hình máy phải tính cả khả năng sấy bằng khí thải lò lẫn hệ thu bụi đủ mạnh.

Đá vôi Ai Cập phân bố dọc thung lũng Nin và các cao nguyên sa mạc, cấp nguyên liệu cho các trung tâm xi măng lớn quanh Suez, Beni Suef, Minya và Alexandria. Đặc trưng nổi bật là độ giòn cao, độ cứng Mohs 3 - 4, nhưng lượng bụi mịn tự nhiên lớn và độ ẩm thay đổi theo độ sâu khai thác cũng như các trận mưa rào hiếm gặp. Vì vậy cùng một mỏ, đá khai thác tầng trên và tầng dưới có thể cho độ chảy và độ ẩm khác nhau.
Nhu cầu độ mịn cũng khác nhau. Bột liệu cho lò clinker cần sót sàng 80 µm ổn định, đáy lò quyết định chất lượng clanhke. Phụ gia và thạch cao cho nghiền xi măng cần cỡ thô hơn. Riêng phosphorit ở New Valley cho sản xuất DAP thường yêu cầu 200 mesh lọt 80%, và vì quặng cứng hơn đá vôi nên phải hạ năng suất dự kiến cho cùng một máy.
Điểm riêng của Ai Cập là cách cấp nhiệt. Các nhà máy xi măng luôn có khí thải nóng sẵn nên việc tích hợp sấy vào máy nghiền gần như là mặc định; ngược lại, cơ sở nghiền độc lập không có lò phải tính buồng đốt phụ, làm tăng chi phí nhiên liệu và cần kiểm soát nhiệt độ khí vào để không vượt ngưỡng chịu nhiệt của lọc túi.
| Ứng dụng | Công suất | Độ mịn | Thiết bị gợi ý |
|---|---|---|---|
| Bột liệu xi măng | 60 - 170 t/h | Sót 80 µm kiểm soát | Máy nghiền đứng LM |
| Bột liệu cỡ vừa | 23 - 68 t/h | 170 - 40 µm | LM190K |
| Phosphorit phân bón | 15 - 45 t/h | 200 mesh lọt 80% | MTW215G |
| Phụ gia, thạch cao | 9,5 - 25 t/h | 200 mesh | MTW175G |
Nhà máy lớn nên dùng máy nghiền đứng LM cỡ mâm 1900 - 2800 mm, công suất 23 - 170 t/h, vì một tổ máy đã gánh được tuyến bột liệu chính và cho phép dùng khí thải sấy vật liệu tới 15% ẩm. Cơ sở nghiền độc lập quy mô vừa, không có lò, hợp với máy châu Âu MTW ở dải 80 - 325 mesh, vốn chỉ cần buồng đốt phụ nhỏ hơn và nền móng nhẹ.
Yếu tố logistics cũng ảnh hưởng cấu hình. Hàng nhập qua Alexandria hoặc Port Said nên máy cần chia thành các mô đun vừa container và vừa cẩu tại cảng; nếu không, chi phí vận chuyển quá khổ sẽ đội lên rất nhanh. Phụ tùng mài mòn nên dự trữ theo lô vì thời gian giao bổ sung từ nước ngoài tính bằng tuần, còn mùa cao điểm xây dựng không chờ được.
Phần lớn chọn máy nghiền đứng cỡ lớn chạy 23 - 68 t/h trở lên, dùng khí thải nóng từ tháp sấy sơ bộ để sấy vật liệu tới 15% ẩm và kiểm soát sót sàng 80 µm. Máy đứng cũng cho phép thay con lăn bằng cách lật ra ngoài, giảm thời gian dừng.
Đá vôi sa mạc thường khô và nhiều bụi mịn tự nhiên, cộng thêm khí hậu hanh nên bụi phát tán mạnh. Các khu công nghiệp quanh Suez và Alexandria có tiêu chuẩn môi trường chặt, nên lọc túi vải phải đủ diện tích và kiểm tra tụt áp thường xuyên.
Nên, vì vừa tiết kiệm nhiên liệu vừa tận dụng nhiệt sẵn có. Khí thải từ tháp sấy sơ bộ hoặc đuôi lò được dẫn vào vành gió của máy nghiền đứng để sấy và vận chuyển bột, nhờ đó xử lý được đá ẩm tới 15% mà không cần lò sấy độc lập.
Phosphorit cứng hơn và có độ mài mòn cao hơn đá vôi, thường cần độ mịn 200 mesh lọt 80% cho sản xuất phân bón. Nên giảm năng suất dự kiến, chọn vật liệu con lăn chống mài mòn và dự trữ phụ tùng, đồng thời kiểm soát độ ẩm vì quặng dễ hút ẩm khi lưu ngoài trời.