Máy nghiền đá vôi tại Zambia: bột cho xi măng và vôi nông nghiệp
Đá vôi Lusaka, Ndola, Kitwe nghiền khô 80 - 325 mesh cho xi măng và cải tạo đất. Chọn máy MTW hay LM theo độ ẩm mùa…
Xem chi tiếtMáy nghiền đá vôi làm phụ gia xi măng là khâu quyết định chất lượng xi măng pooc lăng hỗn hợp: đá vôi nghiền mịn thay một phần clanhke, giúp hạ chi phí và giảm phát thải, nhưng nếu hạt quá thô thì giảm cường độ, còn quá mịn thì đội điện năng và tăng nước trộn.

Đá vôi là đá trầm tích gốc cacbonat canxi, thành phần chính CaCO₃, thường lẫn dolomite, silic và một ít sét. Độ cứng chỉ 3 - 4 theo Mohs, xốp và giòn nên nghiền dễ hơn clanhke nhiều. Chính vì mềm mà đá vôi bị nghiền vượt rất nhanh: khi nghiền chung với clanhke, hơn 90% hạt đá vôi ra khỏi buồng nghiền nhỏ hơn 10 µm, trong khi hạt clanhke còn thô hơn. Bề mặt riêng tăng thêm khoảng 50 - 100 cm²/g cho mỗi 1% đá vôi pha vào ở cùng năng suất.
Áp lực chất lượng nằm ở chỗ bề mặt riêng kiểu Blaine không phản ánh đúng cường độ của xi măng đá vôi. Ở cùng một trị số Blaine, xi măng trộn 30% đá vôi có thể cho cường độ và độ bền khác nhau rõ rệt tùy phân bố cỡ hạt. Vì vậy mục tiêu của khâu nghiền không phải là đẩy Blaine lên thật cao, mà là giữ phân bố hạt đều, đưa hạt đá vôi đi qua buồng nhanh để giảm nghiền vượt, đồng thời nghiền clanhke đủ mịn. Dải bề mặt riêng thường dùng cho phụ gia đá vôi là 300 - 600 m²/kg, tương đương D97 khoảng 45 µm, và có thể xuống 10 - 20 µm cho loại chuyên dụng.
Với dây nghiền riêng phụ gia, nên đặt chế độ chạy có phân ly điều khiển bằng biến tần để đổi độ mịn theo chủng loại xi măng mà không phải dừng máy. Không nên để tải nghiền nhảy bậc liên tục vì dễ gây quá dòng cục bộ và mòn con lăn lệch.
| Ứng dụng | Độ mịn | Thiết bị gợi ý | Ghi chú vận hành |
|---|---|---|---|
| Phụ gia khoáng xi măng hỗn hợp | 350 - 500 m²/kg Blaine | LM hoặc MTW6X | Tích hợp sấy, tránh nghiền vượt hạt đá vôi |
| Chất độn bê tông nhựa | 200 - 325 mesh | MTW | Đá phải sạch, ổn định màu và độ trắng |
| Bột bả, keo trát | 325 - 600 mesh | LM hoặc LUM | Cần phân ly cắt biên hạt chặt |
| Vôi nông nghiệp | 20 - 100 mesh | MTM | Vốn thấp, chấp nhận hạt thô hơn |
| Phụ gia cao cấp, xử lý nước | 600 - 1250 mesh | LUM hoặc SCM | Điện năng riêng cao, cần tính kỹ kinh tế |
Dây phụ gia công suất từ 30 t/h trở lên nên chọn máy nghiền đứng LM: cụm con lăn lật ra ngoài khi thay thế, và với bốn con lăn thì có thể chạy tiếp ở 60 - 70% năng suất trong lúc sửa một con. Dây 10 - 25 t/h, cần thay đổi độ mịn thường xuyên, thì máy châu Âu MTW hoặc phiên bản thông minh MTW6X hợp lý hơn nhờ bộ phân ly điều chỉnh vô cấp và cỡ cấp liệu tới 35 - 50 mm. Khi cần phụ gia siêu mịn cho bột bả hoặc chất độn cao cấp, máy nghiền siêu mịn đứng LUM và máy SCM cho phép kéo tới 1250 - 2500 mesh.
Phần phụ trợ cần tính cùng lúc với máy chính: quạt hút đủ cột áp vận chuyển bột đi xa, lốc tách ly tâm thu phần lớn thành phẩm, lọc túi vải xung khí nén xử lý khí trước khi thải, và tủ điện PLC liên động giữa cấp liệu, gió và nhiệt độ. Nếu pha trực tiếp vào dây xi măng, nên bố trí cân băng định lượng riêng cho phụ gia để tỷ lệ trộn không trôi theo lưu lượng bột.
Theo nhóm tiêu chuẩn tương đương EN 197-1, đá vôi có thể chiếm tới 35% khối lượng chất kết dính ở một số chủng loại xi măng hỗn hợp. Thực tế các trạm thường chọn 10 - 25% để cân bằng giữa tiết kiệm clanhke và giữ cường độ ở tuổi 28 ngày.
Đá vôi mềm hơn clanhke nên dễ bị nghiền vượt. Hạt quá mịn làm tăng lượng nước trộn, dễ kết tụ trong buồng nghiền và dính lên bi, tấm lót, khiến năng suất giảm. Mục tiêu là đưa hạt đá vôi ra khỏi buồng nhanh, đồng thời giữ đủ độ mịn cho clanhke.
Dây công suất lớn nên dùng máy nghiền đứng LM vì tích hợp sấy, nghiền và phân ly, điện năng riêng thấp hơn máy bi đáng kể. Dây vừa và nhỏ, cần đổi độ mịn linh hoạt thì máy châu Âu MTW hoặc MTW6X phù hợp hơn về vốn đầu tư.
Khi nghiền chung đá vôi với clanhke, trợ nghiền giúp phân tán hạt, giảm kết tụ và giảm dính thành thiết bị. Với dây nghiền riêng đá vôi ở độ mịn vừa, có thể chạy không trợ nghiền nhưng năng suất thường thấp hơn 5 - 10%.