Phương pháp nghiền bột đá: so sánh khô, ướt và các kiểu máy
Phương pháp nghiền bột đá gồm nghiền khô, nghiền ướt và các kiểu máy bi, máy đứng, con lăn, phản lực. So sánh điện…
Xem chi tiếtMáy nghiền đá Changfeng 11105 là kiểu tên gọi khiến nhiều người mua lúng túng, vì mã hiệu không tự nói lên năng suất hay độ mịn. Thực ra đằng sau chuỗi ký tự đó là một hệ thống mã hoá đọc được, giúp người mua suy ra cỡ máy trước khi quyết định.

Máy nghiền đá Changfeng 11105 thuộc nhóm thiết bị cỡ nhỏ, thường dùng cho trạm bột đá vôi, canxit hoặc dolomite ở quy mô vài tấn mỗi giờ. Điểm cần lưu ý là mã hiệu kiểu này không theo một chuẩn quốc tế thống nhất, nên hai nhà cung cấp khác nhau có thể dùng cùng dãy số cho hai cỡ máy khác hẳn nhau.
Vì vậy, thay vì tin vào tên gọi, người mua nên yêu cầu bảng thông số gốc. Với máy cỡ nhỏ, các con số quyết định là cỡ liệu tối đa 20 - 25 mm, dải độ mịn 80 - 2500 mesh và năng suất theo từng mức mịn. Công suất động cơ chính thường 18 - 75 kW; nếu lớn hơn nhiều so với năng suất ghi trên nhãn thì cần kiểm tra lại vì có thể máy đang bị quảng cáo quá đà.
Một mã hiệu chỉ là điểm khởi đầu. Bản vẽ kỹ thuật và biên bản chạy thử mới là căn cứ để so sánh hai máy cùng tên gọi nhưng khác thực chất.
| Dạng mã | Ý nghĩa thường thấy | Dải năng suất |
|---|---|---|
| 4R3216 / 6R4525 | Số con lăn R, đường kính vành nghiền | 1 - 18 t/h |
| HGM80 - HGM1680 | Đường kính vành nghiền (mm) | 0,5 - 45 t/h |
| YGM7815 | Cỡ con lăn và vành nghiền | 1 - 3 t/h |
| Dãy số kiểu 11105 | Không chuẩn, cần hỏi nhà cung cấp | Phải đối chiếu bảng gốc |
Với trạm cỡ nhỏ dưới 5 t/h, máy nghiền kiểu Raymond MTM hoặc dòng siêu mịn SCM là lựa chọn hợp lý, vốn thấp và dễ vận hành. Khi cần năng suất từ 10 t/h trở lên, nên chuyển sang máy châu Âu MTW hoặc máy nghiền đứng LM để tránh phải mua nhiều máy nhỏ chạy song song, vì cách đó tốn nhân công và khó đồng bộ chất lượng.
Khi so sánh các mã máy, hãy lập một bảng đối chiếu gồm cỡ liệu, độ mịn, năng suất thực, tổng công suất lắp đặt và điện năng riêng theo kWh/t. Chỉ khi đủ năm cột đó mới thấy được máy nào thật sự rẻ trong dài hạn, chứ không chỉ rẻ lúc mua.
Đọc được một phần. Nhóm chữ cái chỉ dòng máy, còn dãy số thường là đường kính vành nghiền và số con lăn. Từ đó suy ra dải năng suất gần đúng, nhưng vẫn phải đối chiếu bảng thông số và chạy thử mẫu thật.
Vì năng suất phụ thuộc độ cứng, độ ẩm nguyên liệu và độ mịn yêu cầu. Nhà sản xuất thường ghi năng suất theo vật liệu chuẩn Mohs 3 - 4; đá cứng hơn sẽ tụt xuống, đôi khi chỉ còn 60 - 70%.
Cỡ liệu tối đa, dải độ mịn, năng suất theo từng mức mịn, công suất động cơ chính, tổng công suất lắp đặt và điện năng riêng theo kWh/t. Thiếu bất kỳ mục nào thì chưa đủ để so sánh máy.
Không. Máy lớn hơn tốn điện chạy không tải và khó ổn định khi tải thấp. Chọn máy vừa với nhu cầu thực thường hiệu quả hơn mua máy dư công suất để phòng xa.