Thư viện ảnh máy nghiền đá vôi: đọc cấu tạo qua từng bộ phận
Hướng dẫn đọc cấu tạo máy nghiền đá vôi qua ảnh: mâm nghiền, con lăn, bộ phân ly, vành gió, cụm thủy lực và đường thu…
Xem chi tiếtDấu hiệu nhận biết máy nghiền đá gặp sự cố là những tín hiệu quan sát được trước khi máy dừng hẳn: tiếng ồn lạ, độ rung tăng, nhiệt ổ trục vượt ngưỡng, năng suất tụt và bột ra thô hơn. Đọc đúng các dấu hiệu này giúp xử lý ở giai đoạn rẻ tiền, thay vì chờ tới khi hỏng con lăn hoặc cháy động cơ.

Máy nghiền đá là thiết bị chạy liên tục, tải nặng và nhiều bụi, nên hư hỏng thường đến từ từ chứ không đột ngột. Cái khó là phân biệt rung động bình thường của máy chạy tải với rung động bất thường do mất cân bằng hay ổ trục hỏng.
Ngưỡng tham chiếu thực dụng: nhiệt ổ trục dưới 70°C là bình thường, trên 75°C là phải xử lý; tiếng ồn trên 85 dB kèm âm sắc lạ là dấu hiệu cảnh báo; năng suất tụt trên 15% so với cùng điều kiện vận hành là bất thường. Đặt các ngưỡng này thành quy tắc trực ca để không phụ thuộc cảm tính của từng người.
Nguyên tắc xử lý là đi từ việc ít tốn kém tới việc tốn kém hơn: chỉnh cấp liệu và phân ly trước, kiểm tra vệ sinh đường gió sau, cuối cùng mới tính tới thay con lăn hay ổ trục.
| Dấu hiệu | Nguyên nhân thường gặp | Cách xử lý |
|---|---|---|
| Rung mạnh, có tiếng gõ | Bu lông lỏng, con lăn mất cân bằng, có dị vật cứng | Siết bu lông, lấy dị vật, cân bằng lại |
| Ổ trục nóng trên 75°C | Thiếu dầu, dầu bẩn, khe hở sai, quá tải | Giảm tải, thay dầu, chỉnh khe hở |
| Năng suất tụt | Đá ẩm, con lăn mòn, tắc đường gió | Kiểm tra ẩm, mòn, vệ sinh túi lọc |
| Bột ra thô | Phân ly lệch tốc độ, rò khí, cánh mòn | Chỉnh tốc độ, thay gioăng, thay cánh |
| Dòng động cơ vọt, hay nhảy aptomat | Cấp liệu quá nhanh, nghẽn buồng nghiền | Giảm cấp liệu, thông tắc |
Phần lớn dấu hiệu trên liên quan tới cụm nghiền và cụm phân ly, hai bộ phận quyết định chất lượng bột. Với dây dùng máy châu Âu MTW, nên dự phòng một bộ con lăn, một vành nghiền và một bộ cánh phân ly. Với máy nghiền đứng LM, cần theo dõi thêm áp suất thủy lực và tình trạng cụm con lăn lật ra ngoài, vì đây là điểm sửa chữa tốn kém nhất.
Thiết bị phụ cũng sinh ra dấu hiệu: quạt hút rung hoặc ồn chỉ điểm cánh quạt biến dạng, còn lọc túi vải chênh áp cao chỉ điểm túi bám bụi hoặc xung khí nén yếu. Nên lắp cảm biến nhiệt ổ trục và cảm biến chênh áp lọc túi đưa về tủ PLC để cảnh báo sớm thay vì chờ công nhân phát hiện bằng cảm giác.
Rung chỉ xuất hiện lúc khởi động rồi hết thường do nền móng hoặc cộng hưởng. Rung liên tục ở tốc độ làm việc, hoặc kèm tiếng gõ và nhiệt tăng, là bất thường; cần dừng máy và kiểm tra con lăn, bu lông nền và ổ trục.
Bình thường ổ trục chạy dưới 70°C. Khi vượt 75°C kèm mùi dầu khét hoặc dầu biến màu thì phải giảm tải và kiểm tra ngay: thiếu dầu, dầu nhiễm bẩn, khe hở ổ trục sai hoặc chạy quá tải kéo dài.
Thường do ba nguyên nhân: đá ẩm hơn làm bết buồng nghiền, con lăn và vành nghiền đã mòn, hoặc đường gió và túi lọc bị bám bụi làm giảm lưu lượng khí. Kiểm tra theo thứ tự này trước khi thay phụ tùng.
Kiểm tra bộ phân ly trước: cánh mòn vẹt, tốc độ rotor lệch hoặc rò khí giữa buồng nghiền và phân ly. Sau đó mới xem đến lưu lượng gió và tình trạng con lăn, vì cỡ hạt do phân ly quyết định chứ không phải lực ép.