Nhà sản xuất thiết bị nghiền đá: 6 tiêu chí đánh giá năng lực
Sáu tiêu chí đánh giá năng lực nhà sản xuất thiết bị nghiền đá: hồ sơ kỹ thuật, dự án tham chiếu, vật tư hao mòn…
Xem chi tiếtCông suất nghiền đá trong dây sinh khối là tổng công suất trục cần để đập và nghiền đá vôi tới cấp hạt phục vụ lò hơi, cộng với công suất của quạt và bộ phân loại. Tính thiếu phần này là nguyên nhân phổ biến khiến dây chạy dưới năng suất thiết kế ngay từ tháng đầu.

Công suất nghiền đá trong dây sinh khối là đại lượng tổng hợp, gồm công suất đập thô, công suất nghiền bột, công suất quạt tạo dòng và công suất bộ phân loại. Trong các lò hơi tầng sôi tuần hoàn đốt sinh khối, đá vôi nghiền được phun vào buồng đốt để hấp thụ lưu huỳnh và điều chỉnh môi trường nhiệt; cấp hạt đá càng mịn thì hiệu suất hấp thụ càng cao nhưng điện năng nghiền cũng tăng theo.
Thực tế thiết kế cho thấy chọn cấp hạt là bước quyết định: dùng đá nghiền thô 80 - 150 mesh thì suất điện nghiền chỉ khoảng 18 - 22 kWh/tấn, trong khi đẩy xuống 250 mesh có thể lên 26 - 30 kWh/tấn. Vì vậy câu hỏi cần trả lời trước tiên là lò hơi cần cấp hạt nào, chứ không phải chọn máy mạnh nhất có thể.
Một điểm dễ bị bỏ qua là dây nghiền đá vôi cho lò hơi thường chạy gián đoạn theo chế độ đốt. Nếu tính động cơ theo sản lượng đỉnh rồi để dây chạy non tải phần lớn thời gian, chi phí điện trên mỗi tấn sẽ cao hơn đáng kể so với thiết kế chạy đều.
Đập sơ cấp bằng máy hàm cho đá cứng tiêu tốn khoảng 1,2 - 1,8 kWh mỗi tấn khi hạ cỡ về 50 - 100 mm. Đập thứ cấp bằng máy côn xuống 10 - 30 mm tốn thêm 2,1 - 2,7 kWh mỗi tấn. Đây là phần nhỏ so với công đoạn nghiền bột, nhưng lại là phần quyết định cỡ vào của máy nghiền và do đó ảnh hưởng gián tiếp tới toàn bộ chi phí điện phía sau.
Ở công đoạn nghiền bột, suất điện phụ thuộc vào độ mịn, loại máy, cỡ liệu vào và tổng trở lực hệ thống. Mức chuẩn của bột mịn thông dụng thường rơi vào 18 - 35 kWh mỗi tấn. Khi sản phẩm tiến tới cấp hạt cao hơn, điểm cắt của bộ phân loại được hạ xuống, vòng tuần hoàn nội bộ tăng và điện năng tiêu thụ tăng theo.
Ba nguyên nhân gây thất thoát điện lớn nhất tại hiện trường là cỡ liệu vào quá thô, gió lọt qua khe hở hệ thống và nghiền mịn hơn tiêu chuẩn bán hàng. Xử lý được ba điểm này thường cải thiện suất điện rõ rệt mà không cần thay máy.
| Công đoạn | Cỡ hạt ra | Suất điện | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| Đập hàm sơ cấp | 50 - 100 mm | 1,2 - 1,8 kWh/tấn | Giảm mạnh nếu cấp liệu đã nhỏ sẵn |
| Đập côn thứ cấp | 10 - 30 mm | 2,1 - 2,7 kWh/tấn | Ổn định cỡ vào máy nghiền |
| Nghiền bột thô | 80 - 150 mesh | 18 - 22 kWh/tấn | Phù hợp phun vào buồng đốt |
| Nghiền bột mịn hơn | 200 - 250 mesh | 26 - 30 kWh/tấn | Tăng hiệu suất hấp thụ lưu huỳnh |
| Quạt, phân loại, phụ trợ | — | 3 - 8 kWh/tấn | Phụ thuộc trở lực đường ống |
Với dây 30 t/h cấp đá vôi cho lò hơi tầng sôi, máy nghiền châu Âu MTW cỡ lớn hoặc máy nghiền đứng LM là lựa chọn hợp lý. Máy MTW cho phép chỉnh độ mịn linh hoạt, phù hợp khi nhà máy muốn thử nhiều cấp hạt để tối ưu hiệu suất khử lưu huỳnh. Máy LM tiết kiệm điện hơn ở quy mô lớn nhờ tích hợp sấy và giảm số tuyến song song.
Nếu nhà máy đồng thời nghiền sinh khối và phụ gia khoáng, không nên dùng chung một máy: đặc tính liệu khác nhau làm thay đổi điểm làm việc và gây mài mòn không đều. Nên tách tuyến, hoặc ít nhất bố trí hai bin liệu và công thức vận hành riêng trong hệ điều khiển PLC.
Với các dây cần cấp hạt dưới 200 mesh đều đặn, có thể cân nhắc máy kiểu Raymond MTM cho vốn đầu tư thấp, nhưng phải chấp nhận độ ổn định cấp hạt thấp hơn và yêu cầu liệu khô hơn.
Chỉ số Bond là mức điện năng cần để hạ một tấn vật liệu từ cỡ vào tới cỡ ra xác định. Đá vôi thường 10 - 15 kWh/tấn, đá lẫn silic có thể tới 16 kWh/tấn. Nhân chỉ số này với sản lượng mỗi giờ rồi chia hiệu suất truyền động sẽ ra công suất trục cần thiết.
Khi tải thấp, các bộ phận quay vẫn tiêu thụ công suất không tải, quạt và bộ phân loại chạy lệch điểm làm việc tối ưu. Thực tế ghi nhận suất điện riêng tăng 22 - 27% khi dây chạy dưới nửa công suất thiết kế, trong khi ở mức 70 - 80% tải thì đạt giá trị thấp nhất.
Đá ẩm trên 6% làm suất điện đập tăng 12 - 15% so với liệu dưới 2% ẩm, đồng thời gây bết cửa cấp liệu và treo bin. Mùa khô thường giải quyết bằng che mái, mùa mưa phải tính tới sấy hoặc nâng nhiệt khí.
Trước tiên tính công suất trục theo chỉ số nghiền, sau đó nhân hệ số dự phòng 1,1 - 1,2 rồi mới chọn động cơ. Với động cơ lớn khởi động trực tiếp, phải kiểm tra thêm dòng khởi động và phương án khởi động mềm để không sụt áp toàn nhà máy.