Mua máy nghiền đá dạng bàn nghiền: cách chọn và đọc báo giá
Hướng dẫn mua máy nghiền đá dạng bàn nghiền: xác định cấp hạt, công suất, đọc báo giá theo tổng chi phí sở hữu và…
Xem chi tiếtNghiền đá trong khai thác mỏ là công đoạn đưa đá nguyên khai sau nổ mìn qua đập thô rồi nghiền mịn thành bột theo cấp hạt đặt hàng. Khác với trạm nghiền mua đá cục về, dây đặt tại mỏ phải chịu cỡ hạt vào thay đổi theo tầng khai thác, độ ẩm tăng theo mùa mưa và thành phần đá không đồng nhất.

Nghiền đá trong khai thác mỏ là bài toán cân bằng giữa ba biến số: cỡ hạt đầu vào, cấp hạt bán ra và điện năng tiêu thụ. Trong hầu hết nhà máy chế biến khoáng sản, khâu đập và nghiền chiếm 40 - 60% tổng điện năng toàn trạm, nên chỉ cần lệch vài kWh mỗi tấn là chênh lệch chi phí đã đáng kể theo năm. Điểm khác biệt so với trạm nghiền độc lập nằm ở chỗ nguyên liệu luôn biến động: tầng trên cùng thường cứng hơn, tầng dưới giàu sét hơn, có khu vực lẫn silic khiến đá mài mòn nhanh hơn.
Với mỏ đá vôi, chỉ số nghiền Bond phổ biến 10 - 15 kWh/tấn; đá cứng lẫn silic có thể lên 16 kWh/tấn. Với bazan, chỉ số này cao hơn rõ rệt và thường vượt 20 kWh/tấn, buộc phải chọn thiết bị có lực nghiền lớn và vật liệu chống mài mòn. Chính vì thế, quyết định đầu tiên khi thiết kế là cấp hạt ra chứ không phải model máy.
Cần phân biệt hai hướng sản phẩm. Nhóm thứ nhất là bột khoáng mịn 80 - 325 mesh dùng làm phụ gia xi măng, chất độn, xử lý nước. Nhóm thứ hai là cốt liệu nghiền 0 - 5 mm dùng cho bê tông và đường. Hai hướng này dùng hai loại máy khác nhau và rất hiếm khi gộp chung một tuyến vì đường cong cấp hạt không tương thích.
Đá khai thác mỏ có ba đặc tính ảnh hưởng trực tiếp tới chọn máy: độ cứng, độ mài mòn và độ ẩm. Độ cứng quyết định lực nghiền và công suất động cơ. Độ mài mòn quyết định chu kỳ thay con lăn, tấm lót và tuổi thọ vít tải. Độ ẩm quyết định có cần tích hợp sấy hay không. Ba yếu tố này phải được xác định bằng mẫu thử chứ không dựa trên cảm nhận vận hành.
Về cấp hạt đầu vào, kinh nghiệm thực địa cho thấy mỗi 10 mm tăng ở d95 làm suất điện tăng khoảng 0,9 kWh/tấn với cùng độ mịn Blaine. Cỡ vào từ 40 mm lên 70 mm có thể làm áp suất nghiền cần thêm 0,5 MPa và đội chi phí điện 1,2 kWh/tấn. Vì vậy đập chuẩn bị liệu luôn rẻ hơn tăng công suất động cơ máy nghiền.
Về độ ẩm, đá vôi ẩm trên 6% làm tăng suất điện đập khoảng 12 - 15% và dễ gây bết cửa cấp liệu, treo bin. Mùa mưa ở các mỏ nhiệt đới có thể đẩy độ ẩm bề mặt lên 8 - 15%, vượt khả năng sấy của máy nghiền kiểu Raymond. Trường hợp này nên chọn máy nghiền đứng có cấp khí nóng hoặc bổ sung máy sấy băng tải trước nghiền.
| Mục đích sản phẩm | Độ mịn | Công suất | Suất điện | Ghi chú |
|---|---|---|---|---|
| Phụ gia xi măng, chất độn thô | 80 - 150 mesh | 20 - 45 t/h | 18 - 22 kWh/tấn | MTW hoặc LM, vốn đầu tư vừa |
| Chất độn nhựa, sơn, giấy | 200 - 325 mesh | 8 - 25 t/h | 22 - 28 kWh/tấn | Cần biên hạt hẹp, điều chỉnh tần số |
| Xử lý nước, trung hòa | khoảng 200 mesh | 5 - 15 t/h | 20 - 26 kWh/tấn | Ưu tiên độ hoạt tính, không cần siêu mịn |
| Cốt liệu nghiền 0 - 5 mm | 0 - 5 mm | 80 - 200 t/h | 3,2 - 3,8 kWh/tấn | Không dùng máy nghiền bột |
Với dây nghiền bột tại mỏ quy mô trung bình 10 - 25 t/h ở 200 - 325 mesh, phương án cân bằng giữa vốn và vận hành là một máy nghiền châu Âu MTW kết hợp đập hàm và đập côn phía trước. Dòng MTW có rotor lồng điều chỉnh vô cấp, giữ được biên hạt chặt và xử lý liệu dưới 40 mm.
Khi sản lượng cần vượt 25 t/h hoặc liệu có độ ẩm dao động mạnh, máy nghiền đứng LM hợp lý hơn vì tích hợp sấy trong buồng nghiền, diện tích xây dựng giảm và có thể bố trí ngoài trời. Với yêu cầu siêu mịn trên 400 mesh như bột phụ gia cao cấp, cần chuyển sang máy nghiền siêu mịn đứng LUM hoặc máy SCM.
Thiết bị phụ trợ đi kèm không thể bỏ qua: bin liệu có mái che, cân định lượng kiểu vành đai, sàng rung phân loại, quạt cao áp thiết kế riêng cho cột áp vận chuyển, lốc thu bụi ly tâm, lọc túi vải xung khí nén và hệ điều khiển PLC liên động tải, gió và nhiệt độ.
Với mỏ khai thác theo tầng, nên bố trí máy đập hàm cạnh gương tầng và dùng băng tải dốc chuyển xuống sân công nghiệp. Cách này giảm quãng đường xe ben, nhưng phải tính lại kết cấu sàng cố định và hệ thống thu bụi tại điểm rót.
Nếu đá sau nổ mìn còn cục trên 400 mm, thời gian kẹt hàm tăng rõ rệt và suất điện đập cũng tăng. Đập hai cấp đưa cỡ vào dưới 40 mm là cách rẻ hơn so với tăng công suất động cơ máy nghiền.
Đập thô bằng hàm cho đá cứng tiêu tốn 1,2 - 1,8 kWh/tấn, đập côn xuống 10 - 30 mm khoảng 2,1 - 2,7 kWh/tấn. Riêng công đoạn nghiền bột mịn dao động 18 - 35 kWh/tấn tùy độ mịn và mức non tải của hệ.
Độ ẩm trên 6% làm tăng suất điện đập khoảng 12 - 15% và gây bết cửa cấp liệu. Nên che mái bin liệu, dùng máy nghiền đứng có sấy khí nóng hoặc bổ sung máy sấy băng tải dùng khí thải nhiệt độ thấp.