Cơ sở nghiền đá vôi tại Nasarawa: quy mô vừa, 3 - 25 t/h
Cơ sở nghiền đá vôi quy mô vừa ở bang Nasarawa: cấp liệu dưới 40 mm, ra 80 - 325 mesh, 3 - 25 t/h, dùng máy MTM hoặc…
Xem chi tiếtNghiền đá vôi tại Nigeria là bài toán cân bằng giữa ba yếu tố: độ ẩm đá đổi theo mùa, giá điện và khả năng có phụ tùng thay thế. Các trạm nghiền bột đá vôi phục vụ xi măng, vôi nông nghiệp và phụ gia xây dựng ở Kogi, Edo, Ogun hay Cross River phần lớn chọn máy nghiền đứng để vừa sấy vừa nghiền trong một cấu hình.

Đá vôi là khoáng cacbonat canxi, thường lẫn dolomite, silic và sét. Ở Nigeria, trữ lượng tập trung ở Kogi, Edo, Ogun, Cross River, Benue và Nasarawa, phục vụ chủ yếu cho các cụm xi măng quanh Obajana, Okpella và các trạm nghiền vệ tinh. Độ cứng Mohs của đá vôi chỉ 3 - 4, dễ nghiền hơn clanhke hay xỉ, nhưng độ mài mòn lại tăng mạnh khi hàm lượng SiO₂ tự do vượt 4 - 5%.
Điểm khó nhất của nguyên liệu này nằm ở độ ẩm. Mùa khô đá chỉ 2 - 4% nước, sang mùa mưa có thể lên 10 - 15%. Máy bi truyền thống bắt đầu dính và nghẽn khi vật liệu vượt 2% ẩm, trong khi máy nghiền đứng dẫn khí nóng qua vành gió nên vừa đẩy vừa sấy, chịu được dải ẩm rộng mà không cần lò sấy độc lập.
Với khu vực dùng máy phát diesel dự phòng, nên đặt tải nghiền ở chế độ chạy nền liên tục và để bộ phân ly tự điều chỉnh tốc độ, tránh giật tải gây quá dòng khi lưới điện chập chờn.
| Ứng dụng | Độ mịn | Thiết bị gợi ý | Ghi chú vận hành |
|---|---|---|---|
| Bột liệu xi măng | 80 - 200 mesh | LM | Tích hợp sấy, xử lý ẩm tới 15% |
| Vôi nông nghiệp | 20 - 100 mesh | MTW hoặc MTM | Vốn đầu tư thấp, dễ vận hành |
| Phụ gia bê tông, vữa trát | 100 - 200 mesh | MTW | Đá phải sạch, ổn định màu |
| Chất độn, xử lý nước | 200 - 325 mesh | LM hoặc MTW | Cần phân ly rotor cắt biên hạt |
Dây công suất lớn từ 30 t/h trở lên nên dùng máy nghiền đứng LM, vì cụm con lăn có thể lật ra ngoài khi thay thế và hai con lăn đối xứng vẫn chạy được 60 - 70% năng suất trong lúc sửa. Dây quy mô 5 - 25 t/h, đầu tư hạn chế thì máy châu Âu MTW là lựa chọn hợp lý với dải 80 - 325 mesh và bộ phân ly điều chỉnh bằng biến tần.
Phần thiết bị phụ cần tính kỹ: quạt hút đủ cột áp để vận chuyển bột đi xa, lốc tách ly tâm thu phần lớn thành phẩm, lọc túi vải xung khí nén xả sạch trước khi khí thải ra ngoài, cùng hệ PLC liên động cấp liệu, gió và nhiệt độ. Với môi trường nhiều bụi, tủ điện nên đặt tách riêng và làm mát bằng quạt lọc.
Phần lớn không cần. Vào mùa mưa độ ẩm đá có thể lên 10 - 15%, máy nghiền đứng dùng khí nóng từ lò hoặc buồng đốt phụ để sấy ngay trong buồng nghiền. Chỉ khi độ ẩm vượt 15% mới cần thêm thiết bị sấy sơ bộ.
Điện tiêu thụ riêng của máy đứng thấp hơn máy bi 30 - 50% ở cùng độ mịn, lại tích hợp phân ly nên giảm thiết bị phụ. Ở khu vực lưới điện yếu, phần điện tiết kiệm này quyết định chi phí vận hành mỗi tấn bột.
Bột liệu cho lò clinker thường đạt 80 - 200 mesh, tương đương 180 - 75 µm. Muốn phản ứng nhanh hơn trong phối liệu thì đẩy lên 200 - 325 mesh; tăng độ mịn kéo theo điện năng tăng nhưng cải thiện độ đồng nhất phối liệu.
Không phải lúc nào cũng có. Nên đặt trước một bộ con lăn và vành nghiền dự phòng, đồng thời chọn loại lót có độ cứng phù hợp để giảm số lần thay. Dây có nhiều silic tự do nên dùng lót đúc hợp kim chống mài mòn.